Thơ Lý Bạch

Danh mục: Văn
Tác giả: sưu tầm
Người đăng: educare
Ngày đăng: 10/08/2010
Đánh giá: Chưa có đánh giá
Số lần đánh giá: 0
Lượt tải về: 521


Mã nhúng
Bình chọn
Đánh dấu
Gửi cho bạn bè:
Chia sẻ:
Báo xấu:

Giới thiệu

Bài giảng thơ Lý Bạch môn văn lớp 10 giúp các bạn hiễu rõ hơn về nhà thơ Lý Bạch một nhà thơ nỗi tiếng của Trung Quốc

Sơ lược

Bài Thuyết trình

Nội dung: Thơ Lí Bạch
Thơ Lý Bạch viết về đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ đau của người dân, nỗi cay đắng của người vợ trẻ xa chồng (chinh phụ, thương phụ), của người cung nữ, nỗi cô đơn và bất lực trước vũ trụ vô cùng vô tận, nỗi cay đắng vì có tài mà không được dùng… Đề tài nào cũng có những bài tyệt tác.
Đất nước Trung Hoa hiện lên tráng lệ dưới ngòi bút của ông. Sông Hoàng Hà cuồn cuộn chảy ra biển Đông như một lực sĩ:
Quân bất kiến Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi (Trương Tiến Tửu)
(Há chẳng thấy nước Hoàng Hà từ trời đổ xuống
Chảy tuột biển Đông chẳng quay về) (Hãy cạn chén)
Sông Dương Tử (tức Trường Giang) đi vào thơ ông như dải lụa thắt ngang trời:
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa giang nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu
(Hoàng Hạc tống Mạnh Hạo Nhiên chi quảng lăng)
Bạn từ lầu Hạc lên đường
Giữa mùa hoa khói châu Dương xuôi dòng
Bóng buồm đã khuất bầu không
Trông theo chỉ thây dòng sông bên trời
(Tại lầu tiễn bạn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng)
Thác Hương lô được miêu tả như sông Ngân Hà tuột khỏi mây:
Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên
Phi lưu trực há tam thiên xích
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.
( Vọng Lư Sơn bộc bố)

Nắng rọi sông Lô khói tía bay
Xa trông dòng thác trước sông này
Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước
Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây
( Xa ngắm thác Hương Lô)
Tả cảnh thiên nhiên mà tráng lệ như thế, rõ ràng tác giả đã yêu quê hương, đất nước biết nhương nào. Lòng yêu nước của Lí Bạch chính là bắt nguồn từ lòng yêu sông núi quê hương vậy.
Bài tứ tuyệt thể hiện nỗi lòng nhớ quê hương da diết của ông là bài Tĩnh dạ tư ( Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh), một bài thơ mà không người Trung Quốc tha phương cầu thực nào không thuộc lòng:
Sàng tiền minh nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sơn
Cử đầu vọng minh nguỵêt
Đê đầu tư cố hương
Đầu giường ánh trăng rọi
Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương
(Tương Như dịch)
Chính vì lòng yêu quê hương, đất nước mà Lí Bạch có lòng đồng cảm sâu sắc với số phận của nhân dân-những người chăm bón vun trồng cho vườn hoa đất nước.Nếu Đỗ Phủ do cuộc đời chìm ngập trong khói lửa loạn ly, do cảm hứng trách nhiệm của một nhà nho mà chủ yếu nói đén số phận đẫm máu và nước mắt của nhân dân thì Lí Bạch do sống chủ yếu trong thời thịnh vượng của nhà Đường, lại do khát khao cái đẹp, cái bay bổng diệu kì của của một nhà thơ lãng mạn mà ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ và nói đến những trăn trở thầm kín của họ. Bất kể đối tượng xã hội nào, nếu kà đẹp, một vẻ đẹp đầy nữ tính đều tạo nên nguồn cảm hứng mạnh cho nhà thơ. Bài ``Thái liên khúc" (khúc hát hái sen) miêu tả cô gái hái sen thoắt ẩn thoắt hiện giữa một không gian đầy hoa, hoa trên đầm sen, hoa dưới nước. Mấy cô thôn nữ đã hiện về như những nàng tiên giáng trần.Ba bài Thanh bình điệu "tả vẻ đẹp của nàng Dương quý phi thật mê hồn. Nhưng điều cần nói là trong mắt Lí Bạch, Dương quý phi không hiện lên với vẻ đẹp kiêu xa của một cung phi mà chỉ là một vẻ đẹp trong suốt ẻo lả. Ta nhớ lời thơ của ông:
Nước trong sẽ nở hoa sen
Thiên nhiên là đẹp chớ nên vẽ vời
Bởi vậy, lòng đồng cảm của ông dành cho phụ nữ là lòng đồng cảm với phái đẹp mà cũng là phái yếu. Ông hiểu thấu nỗi trăn trở đầy nữ tính của họ. Bài "Xuân tứ" nói đến nỗi tê tái của người vợ trẻ có chồng tiện biệt nơi biên cương:
Cỏ Yên vừa nhú tơ xanh
Dâu Tần đã nhú lá cành xum xuê
Khi chàng tưởng nhớ ngày về
Chính là lúc thiếp tái tê cõi lòng
Gió xuân đâu biết cho cùng
Cớ chi len lỏi vào trong màn là
(Cảm xúc mùa xuân)
Cái cảm xúc"gió động màn" của người vợ trẻ phồng không gối chiếc ấy chỉ có người trong cuộc mới có.Chứng tỏ nhà thơ am hiểu sâu sắc nhân vật trữ tình của mình. Cũng như vậy, Tý dạ Ngô ca nói đến nỗi niềm của người phụ nữ giặt áo bông khi gió heo may về để kịp gửi cho người chinh chiến phương xa. Trường can hành nói đến nỗi sầu bi của người thương phụ, chồng đi xa, lại vì đồng tiền mà côi khinh ly biệt(Thương nhân trọng lợi khinh ly biệt). Ngọc giai oán, Vương chiêu Quân … lại bày tỏ nỗi lòng đồng cảm với cung nữ…
Tóm lại chủ nghĩa nhân đạo ở mỗi nhà thơ lại có biểu hiện khác nhau. Ở Lí Bạch, một nhà thơ phóng khoáng bay bổng, ít chịu ảnh hưởng Nho gia mà nhiều hơn là đạo gia và Du hiệp, thì lòng đồng cảm với cái đẹp, xót xa trước cái đẹp bị vùi dập, bị chà đạp lại là biểu hiện chủ yếu của chủ nghỉa nhân đạo của nhà thơ.
Nhưng trong xã hội xưa, cho dù vào thời kì thịnh vượng nhất của thời Đường,bất công ngang trái vẫn là hiện tượng phổ biến. Bất công ấy đổ lên đầu nhà thơ. Ông nuôi chí lớn, muốn làm``con cá vắt ngang biển"(hoành hải ngư), muốn `` chém sạch cá kình cá nghê, khơi trong lònh Lạc Thuỷ(Tặng Trương Tương Cảo), nhưng ông không khỏi thất vọng. Ông nói:"Tôi vốn không bỏ đời mà đời bỏ tôi``. Có tài mà không được dùng, có trí mà không nơi thi thố, tâm hồn đa cảm mà bbất lực trước xã hội. Điều đó tạo nên những vần thơ u uẩn bất đắc chí của ồng. Hàng loạt như: "Hành nộ nan“ (Đường đời khó khăn),"Trương tiến tửu"(hãy cạn chén), "một mình uống rượu dưới trăng`` đã bộ bạch tâm sự ấy. Có lúc ông mượn rượu để giải sầu:

Đời người đắc ý cứ say đi
Trăng suông chén trống để mà chi
Nhưng rồi cái buồn vẫn đeo đẳng, biến thành phẫn uất:
Rút dao chém nước, nước vẫn chảy
Cất chén tiêu sầu, sầu vẫn chảy
Trăng và rượu, tiên và kiếmkết hợp trong tâm tư đầy mâu thuẫn của nhà thơ.Thực trạng ấy khién ông có lúc buông thả, hành lạc, nhưng chung quy vẫn là tinh thần tiến thủ ,vì cái đẹp, vì cuộc sống vẫn cán xuyến tư tưởng của ông.
Ở Việt Nam , tứ thơ mạnh mẽ, say mê của Lí Bạch ảnh hưởng đến chinh phụ ngâm ,thơ Cao Bá Quát,Nguyễn Công Trứ. Nhưng cũng không ít người chịu ảnh hưởng mặt buông thả, hành lạc trong thơ ông, tiêu biểu là Vũ Hoàng Chương.